GC-44: NOEL!

Recent Pages:   1  2  3  4  5  5a  6  7  8  9  10  11 12 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 25a 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45

 NOEL!

Ngày lễ Giáng Sinh, trẻ con rất thích ông già Noel. Vấn đề đặt ra là ‘ông già Noel có thật hay không?’ Nhu yếu của cuộc sống bắt buộc phải có ông già Noel. Nếu không có ông già Noel, chắc chắn cũng sẽ có một ông già khác. Đây không phải là vấn đề tôn giáo mà là văn hóa. Trong văn hóa Tây phương, nếu không có ông già Noel thì sẽ thiếu vắng rất nhiều. Vì vậy cho nên có ông già Noel hay không có ông già Noel như một nhân vật lịch sử không phải là vấn đề then chốt.

Khái niệm của trẻ em về ông già Noel rất dễ thương, rất ngây thơ: ‘Ông già Noel thường mặc áo đỏ, đội nón đỏ có cái chuôi dài, đi đôi hia cao cổ (tại vì đi trên tuyết), và một bộ râu dài bạc phơ. Phương tiện chuyển vận của ông không phải là xe taxi, mà là một chiếc xe trượt tuyết có những con nai kéo. Khi tới nhà mình, ông không vào bằng cánh cửa chính (tại vì cửa đã được đóng vào giờ ấy), mà chui từ trên ống khói xuống, và ông chui rất hay, thành thử ra áo quần của ông không bị dính lọ nghẹ. Ông không bị đốt nóng, dù lúc đó củi vẫn còn cháy. Ở chỗ bếp lửa đêm hôm ấy, bọn trẻ con đã treo những chiếc vớ của chúng trước khi đi ngủ. Chúng tin rằng vào nửa đêm ông già Noel sẽ tới và sẽ bỏ vào vớ những món quà chúng thích.’ Chúng thật sự tin như vậy. Nếu chúng ta lấy mất niềm tin đó của bọn trẻ con, thì tội nghiệp chúng quá. Nếu một đứa bé bốn tuổi, năm tuổi nghe nói ông già Noel không có thật thì nó sẽ buồn biết mấy.

Vì vậy, chắc chắn phải có ông già Noel cho bọn trẻ con. Ông già Noel nghe được ước vọng của bọn trẻ con. Bọn trẻ con muốn cái gì ông cũng biết và ông cho ngay cái đó. Ước vọng của bọn trẻ con là một cái gì có thật. Những người nghe và hiểu được cái ước vọng đó cũng là những người có thật. Đó là những ông già Noel đích thực. Ông già Noel đích thực không cần phải có râu dài màu trắng, không cần phải mặc áo đỏ, không cần phải đi hia đỏ. Nếu chúng ta kẹt vào tướng của ông già Noel, thì chúng ta không thấy được ông già Noel. Vậy thì có ông già Noel, hay không có ông già Noel? Đó không phải là vấn đề. Chúng ta phải nhìn ông già Noel bằng con mắt vô tướng. Nếu trong quá khứ ta đã từng có một quan niệm về ông già Noel, thì quan niệm đó có thể là quan niệm ngây thơ của một em bé. Một mai ta bừng tỉnh, ta mỉm cười, biết rằng mình đã vượt thoát ý niệm ngây thơ về ông già Noel. Vượt thoát rồi, nhưng ta vẫn duy trì hình ảnh ông già Noel cho thế hệ tương lai.

Bụt cũng vậy, Chúa cũng vậy, đều là những ông già Noel cả. Nhưng nếu ta cho rằng những hình ảnh đó là những sản phẩm hoàn toàn của tưởng tượng thì cũng không đúng. Tại vì ông già Noel cần thiết cho cuộc đời. Bụt, Chúa, các vị Bồ-tát cần thiết cho cuộc đời. Tuy vậy, nếu ta muốn lớn lên, không phải về mặt tuổi tác mà về đời sống tâm linh, ta muốn tiếp xúc được với sự thật thì ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm, những hình ảnh trẻ thơ của ta. Ta từng có quan niệm về Bụt, về Chúa, và ta đã sống với quan niệm đó từ thời ấu thơ. Khi được học hỏi, thực tập, từ từ ta có khả năng buông bỏ những quan niệm trẻ thơ ấy về Bụt và về Chúa.

Thầy Thanh Văn hồi còn năm, sáu tuổi, có ý nghĩ rằng Bụt rất ưa ăn chuối, tại vì ai tới chùa cũng cúng chuối. Bụt đợi cho đến khi chùa vắng lặng hoàn toàn, mới đưa cánh tay ra bẻ một trái chuối mà ăn. Đến khi thầy lớn lên thì cái thấy đó về Bụt không còn nữa, nó được thay thế bằng những cái thấy khác. Vì vậy, ta phải buông bỏ những cái tướng để sự thật có thể hiển bày ra được. Nếu chúng ta không buông bỏ cái tướng ông già Noel, thì làm sao ta thấy được ước mơ của bọn trẻ con và lòng thương yêu của những bậc cha mẹ? Ông già Noel có mặt trong những em bé, và có mặt trong những người cha, những người mẹ. Ông già Noel là một phẩm vật sáng tạo của tâm thức. Là sáng tạo phẩm thì nó phải có thật chứ sao không có thật được? Sáng tạo phẩm đó được nhận thức qua một hình thái trong văn hóa do con người vẽ ra. Người ta vẽ ra hình Bụt, người ta vẽ ra hình Chúa, người ta vẽ ra hình Bồ-tát, người ta vẽ ra hình ông già Noel.

Nhưng rốt cuộc ta cũng phải lớn lên trong đời sống tâm linh của ta. Ta phải phá tan những hình ảnh mà con người đã vẽ ra để có thể tiếp xúc với sự thật. Không phải Bụt không có, Chúa không có, tình yêu không có, bác ái không có. Đó là những thực tại, nhưng không phải là những đối tượng mong cầu đang có mặt ở ngoài ta. Nó không phải là cái gì khác (the other, l’autre), nó không phải là một thực thể độc lập có ngoài tâm thức ta, ngoài con người ta, ngoài sự sống của ta. Khi thấy được như vậy, thì ta không còn tìm cầu, không còn theo đuổi nữa. Ta không đánh mất bản thân của ta, không lâm vào cái mặc cảm ta là con số không. Lưỡi gươm trí tuệ là lưỡi gươm có thể chặt đứt được tất cả những khái niệm đó, những ảo ảnh đó, những tướng trạng đó, những hình thức đó.

Nguồn: Làng Mai

Quê hương đích thực

(Thông điệp mùa Giáng Sinh – pháp thoại ngày 9.12.2012 tại thiền đường Cam Lộ – Xóm Hạ trong mùa An Cư Kiết Đông 2012-2013)

VỀ NHÀ

Trong văn hóa Tây phương, ngày Noel là ngày đoàn tụ gia đình. Bất kì ai đi đâu cũng phải về nhà, giống như ngày Tết ở Việt Nam vậy. Mình phải trang trí như thế nào để ngôi nhà của mình có vẻ ấm cúng và thoải mái. Tất cả chúng ta, người nào cũng mơ ước có được một mái nhà ấm áp, thân thương, trong đó chúng ta cảm thấy không cần phải đi đâu nữa, không cần phải làm gì nữa, không cần tìm kiếm gì nữa. Cái đó gọi là True Home (ngôi nhà đích thực). Trong chúng ta người nào cũng có khao khát ấy.

Chúa Kitô khi mới sinh ra đã phải chạy tỵ nạn rồi. Ngài sinh ở máng lừa và khi lớn lên, Ngài cũng phải sống lang thang. Có một lần Chúa Kitô đã than thở rằng: “Con chim còn có cái tổ của nó, con thỏ, con chồn cũng có cái hang của nó, vậy mà ta không có chỗ để gối đầu lên”. Chúa Kitô đã than thở như vậy, Chúa không có nhà và phải đi tìm kiếm một mái nhà. Siddhatta cũng vậy. Sinh ra trong một gia đình hoàng gia, giàu có, muốn gì cũng được; có vợ đẹp, có con xinh, có tương lai sẽ làm vua,…nhưng Siddhatta không cảm thấy thoải mái ở trong  hoàn cảnh đó, không  cảm thấy đây là nhà (at home). Vì vậy cho nên Siddhatta phải bỏ nhà ra đi, đi tìm ngôi nhà đích thực (true home) của mình, tức là sự bình an.

Chúa Kitô cũng như Siddhatta đều tìm về một quê hương, một ngôi nhà ấm cúng, trong đó mình không còn phải  tìm kiếm gì nữa, mình thoải mái với ngôi nhà của mình. Người Tây phương có câu: “không nơi nào bằng nhà mình” (There is nothing like home), đi đâu cũng không bằng trở về quê hương của mình. Nhưng có những người trong chúng ta không cảm thấy đang được ở trong ngôi nhà của mình, không cảm thấy là mình đang ở nhà dù là đang ở trong gia đình của mình. Tại vì trong khung cảnh gia đình đó không có sự ấm cúng, không có tình thương, không có sự thoải mái, an lạc.

Có những người trong chúng ta đang ở trong quê hương mình mà cảm thấy muốn bỏ đi, cảm thấy như không có quê hương. Người ta nói chỉ có người Do Thái mới không có quê hương, phải đi tìm một quê hương, đi lang thang trong bao nhiêu ngàn năm để kiếm quê hương. Và tới bây giờ người Do Thái cũng chưa thành lập được một quê hương vững chãi của  mình. Nhưng  chúng ta là những người Pháp, những người Anh, những người Mỹ, những người Việt, nhiều người trong chúng ta đang có một quê hương, nhưng ở trong đất nước, quê hương đó chúng ta cũng không cảm thấy thoải mái, chúng ta muốn bỏ nước mà đi, bỏ quê hương mà đi. Tại vì chúng ta không có nhà (home), không có “true home” ở trong lòng.

Dầu chúng ta có mua một cây thông về để trang trí, cũng không hẳn là nhờ đó mà chúng ta có quê hương. Trong quê hương phải có tình thương, phải có sự ấm áp, phải có sự mãn ý.

HẢI ĐẢO TỰ THÂN

ngọn nếnCuối cùng thì Chúa Kitô đã tìm ra được quê hương và đã thắp lên được ngọn đuốc trong lòng Ngài. Chúa đã dạy các đệ tử: “Các ngươi đã có ánh sáng, phải đưa ánh sáng đó ra cho mọi người thấy”. Còn Đức Thế Tôn đã nói rằng chúng ta có thể tìm thấy quê hương đích thực của mình ngay trong giây phút hiện tại. Ngài đưa ra những phương pháp rất cụ thể để mình đi tìm quê hương. Ngài nói rằng trong mỗi chúng ta có một  hải đảo rất an toàn, nếu chúng ta trở về được thì chúng ta sẽ gặp tổ tiên huyết thống và tâm linh, chúng ta sẽ thấy được tất cả những mầu nhiệm của sự sống. Chúng ta sẽ tìm thấy ta. Chỉ trong hải đảo tự thân đó, chúng ta mới cảm thấy an ổn, thoải mái, đầy đủ. Hải đảo đó gọi là hải đảo tự thân (the island within oneself). Siddhatta Gotama đã tìm ra được quê hương và Người cũng muốn cho chúng ta, người nào cũng tìm ra được quê hương đích thực của mình.

Nhớ lại hồi Bụt 80 tuổi và Ngài biết rằng chỉ trong vài tháng nữa là Ngài sẽ đi, Ngài thấy thương các thầy, các sư cô, và bạn bè vì nhiều người trong số đó vẫn chưa tìm được quê hương. Khi nghe tin Thầy mình qua đời, thế nào chúng ta cũng cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Đó là thời gian Bụt đang an cư ở ngoại ô thành phố Vaisali, phía Bắc sông Hằng. Ngài bị bệnh nặng trong mùa an cư đó và thầy Ananda làm thị giả. Thầy Ananda nghĩ rằng Thầy mình sắp mất cho nên đi ra ngoài vườn, núp sau một gốc cây mà khóc. Nhưng sau đó đức Thế Tôn đã dùng sức của mình, gượng lại và sống thêm môt vài tháng nữa. Đức Thế Tôn có ý muốn trở về quê hương Kapilavatthu để nhập diệt.

Sau mùa an cư, Đức Thế Tôn đi một vòng quanh thành phố Vaisali và gặp các thầy, các sư cô và các Phật tử đang thực tập trong Tăng thân của mình. Tới nơi nào Ngài cũng cho một bài thuyết pháp ngắn, chừng năm đến bảy phút thôi. Đề tài của những bài pháp thoại ngắn đó thường thường là về vấn đề quê hương. Nghĩ rằng sau khi mình qua đời rồi, thế nào cũng có những đệ tử cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, không có Thầy cho nên Ngài mới nói rằng: “Này quý vị, mình có một nơi nương tựa và chỉ nên trở về nương tựa nơi đó mà đừng nương tựa nơi một cái gì khác.. Chỗ nương tựa đó chính là hải đảo tự thân, đó là Pháp, nơi đó có an toàn, có hạnh phúc, có sự ấm áp, có tổ tiên, có gốc rễ, gọi là hải đảo tự thân. Tiếng Pali là Attadipa. Atta tức là tự thân, ‘self’, ‘oneself’. Dipa là hải đảo.

Đây là quê hương đích thực của mình, là hải đảo tự thân. Ở đó có ánh sáng của chánh pháp, nơi đó không có sự tăm tối. Trở về thì có ánh sáng, trở về thì có sự bình an, có an ninh. Tại vì hải đảo là nơi an toàn,  không bị những đợt sóng của đại dương cuốn đi. Hình ảnh hải đảo là một hình ảnh rất quan trọng. Trong những bài pháp thoại nho nhỏ mà Đức Thế Tôn đã nói trong những ngày đó, luôn luôn có đề tài “quay về nương tựa hải dảo tự thân”. Chúng ta có một bài hát Attadipasarana, “sarana”  là quay về nương tựa. “Quay về nương tựa hải đảo tự thân”, đó là pháp môn. Nếu ai trong chúng ta cảm thấy chưa có quê hương, chưa có nhà, chưa về tới nơi, vẫn thao thức, vẫn đi tìm, vẫn còn cảm thấy cô đơn,…thì đây chính là phương pháp thực tập. Hãy trở về nương tựa nơi hải đảo tự thân.

Hồi thế kỷ thứ IV hay thứ V gì đó, các thầy đã dịch kinh này ra chữ Hán, các thầy dịch hải đảo tự thân là “tự châu”, “tự” là atta, “châu” là hòn đảo”.  “Nhữ đẳng tỳ khưu đương tự châu” (Này các thầy ơi! hãy trở về nơi hải đảo của chính mình). Đó là lời mà Bụt đã dạy khoảng một tháng trước khi Ngài nhập Niết Bàn.

QUÊ HƯƠNG ĐÍCH THỰC

Là những học trò của Bụt, những tri kỷ của Bụt, chúng ta nghe lời Bụt. Đừng đi tìm quê hương đó trong không gian và thời gian. Chúng ta phải đi tìm quê hương ngay chính trong trái tim của chúng ta, trong chính hải đảo tự thân của chúng ta.

Chúng ta sẽ gặp được tổ tiên tâm linh và huyết thống, chúng ta sẽ gặp được suối nguồn gốc rễ của chúng ta, chúng ta sẽ có bình an, có sự an ổn, có ánh sáng. “Hãy nương tựa nơi hải đảo tự thân, hãy nương tựa vào pháp mà đừng nương tự vào một ai khác”. Bụt có tình thương rất lớn, Ngài biết rằng số đệ tử sẽ cảm thấy bơ vơ rất đông, cho nên Ngài dạy như vậy.

Hình hài của tôi không phải là một cái gì vĩnh cửu. Cái đáng cho quý vị nương tựa chính là hải đảo tự thân của quý vị, nó luôn có đó cho quý vị, quý vị không cần phải đi máy bay hay đi xe bus…mà vẫn tới được hải đảo tự thân bằng hơi thở và bằng bước chân. Noel này nếu quý vị có mua một cây “sapin” về để trang trí, quý vị nên biết rằng quê hương không nằm ở ngoài. Nó nằm trong lòng mình!

Và quê hương đó không phải nhiều năm mình mới về được, phải đi xa mới về tới được. Nếu mình biết cách, nếu mình biết sử dụng Niệm và Định thì mình có thể về được trong một hơi thở, trong một bước chân. Quê hương không phải là một nơi chốn xa cách bởi không gian và thời gian. Quê hương có thể có mặt trong giờ phút hiện tại nếu mình biết trở về.

THÔNG ĐIỆP THƯƠNG YÊU

Ngày hôm qua, Thầy nghĩ rằng thông điệp mà mình muốn gửi đến các bạn trong mùa Giáng Sinh này phải là một thông điệp có thể giúp các bạn tu tập, giúp các bạn có thể làm được như chúa Kitô, như Bụt Sakya. Thầy đã nghĩ ra và Thầy viết thư pháp như thế này: “There is no way home”, nghĩa là không có con đường nào đưa về quê hương hết và thầy viết thêm: “Home is the way”, tức quê hương chính là con đường. Cứu cánh và phương tiện không phải là hai cái. Không có con đường đưa về quê hương mà quê hương chính là con đường. Khi mình bước một bước trên con đường đó là mình về quê hương liền.

Điều đó rất trung thực với giáo pháp của Làng Mai: “There is no way to happiness, happiness is the way” (Không có con đường đưa đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường). Tuần trước mình đã có câu:“There is no way to Nirvana, Nirvana is the way” (Không có con đường đưa đến Niết Bàn, Niết Bàn chính là con đường). Mỗi bước chân, mỗi hơi thở của mình đều có khả năng đưa mình trở về quê hương liền lập tức, bây giờ và ở đây. Đó là pháp môn của Làng Mai. Đó là thông điệp của Thầy gửi cho các thân hữu vào dịp Giáng Sinh năm nay. Nếu cần chúc Giáng Sinh hay chúc Tết, quý vị có thể gửi câu này. Nhưng nếu quý vị có thực tập thành công thì gửi mới có giá trị, còn nếu gửi không thì không có giá trị bao nhiêu.

Sư cô Giải Nghiêm có viết một bài hát bắt đầu bằng câu: “Quê hương đi về trên mỗi bàn chân”. Hễ mình đi mà có chánh niệm thì đó là quê hương, vượt ngàn trùng xa cách đi về tới quê hương bằng từng bước chân. Có biết bao nhiêu con đường đẹp để cho mình đi như vậy, như những con đường ở Xóm Mới, Xóm Thượng, Sơn Hạ, Xóm Hạ. “Bao nhiêu con đường mở ra độ lượng”, mỗi bước chân đều đưa về quê hương. Hạnh phúc như vậy mà không biết hưởng thụ thì rất uổng.

Tại vì “an vui nơi này” là “an khắp mọi phương”, đừng  lo cho gia đình, đừng  lo cho đất nước. Mình phải có an, có vui trước thì gia đình, đất nước mới có một cơ hội. Sư cô Giải Nghiêm cũng như chúng ta, chỉ cần làm theo mấy câu hát đó là đã thành công rồi, không cần phải học thiên kinh vạn quyển mới được. Thành ra khi mình hỏi: “Quê hương của tôi ở đâu?”, thì quê hương của anh nó nằm trong mỗi bước chân, trong mỗi hơi thở của anh. Nếu anh có một ít niệm, một ít định và tuệ thì mỗi bước chân của anh là quê hương, mỗi hơi thở của anh là quê hương. Chúng ta phải thực tập và thực tập ngay bây giờ. Quê hương rất mầu nhiệm.

Nguồn: Làng Mai

Chuyển đến trang:   1  2  3  4  5  5a  6  7  8  9  10  11 12 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 25a 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s