Beautiful Benefits 3: CÁC LOÀI HOA và TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

Recent Pages:  1  2  3  4  5  6  7  8  9 10 11

CÁC LOÀI HOA và
TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

Dược thảo trong y học cổ truyền được sử dụng với 3 mục đích: trị bệnh phòng bệnh, và tăng cường sức khỏe. Người ta có thể sử dụng toàn bộ cây hoặc từng bộ phận của cây, như củ rễ, lá, thân, vỏ rễ, vỏ quả, hoa… Nói đến hoa, chúng ta thường nghĩ đến vẻ đẹp, mùi hương của hoa, nhưng sẽ lý thú hơn khi nhắc đến công dụng của hoa trong việc phòng và trị bệnh.

Công dụng của các loài hoa đối với làn da

Những bông hoa lan trắng muốt, trông thì yếu đuối, mong manh, thế nhưng lại có những tố chất đáng kinh ngạc. Những chiết xuất tinh túy từ hoa lan giúp xoa dịu cơ quanh vùng mắt bạn, tăng cường khả năng tái tạo tế bào da, tăng tốc quá trình tuần hoàn mắt và giúp phục hồi nhanh chóng những tổn hại của da xung quanh mắt. Hoa lan có tác dụng vô cùng lớn trong việc phòng ngừa và phục hồi những vết thâm nơi quầng mắt, giúp cho bạn có một đôi mắt sáng đẹp và một khuôn mặt tươi tỉnh.

sentrangNhững bông hoa sen trắng thuần khiết có tác dụng làm mờ vết thâm một cách dần dà. Tinh chất hoa sen trắng xoa dịu vết thâm và có tác dụng đặc biệt vào ban đêm. Bạn sẽ có một làn da quanh mắt thật mềm mại và sáng đẹp.

Hoa bách hợp: chữa những vết thâm nhỏ, cho bạn làn da trắng đẹp.

Hoa oải hương: làm tăng hoạt tính của da cổ. Hoa oải hương được gọi là một loại “dược thảo thơm”, có khả năng giúp các mạch máu giãn nở, lưu thông máu huyết, đem lại cảm giác thư thái và trạng thái nghỉ ngơi cho các cơ, da. Ngâm mình trong dược thảo hoa oải hương có thể matxa đôi chân của bạn, để chúng khỏe hơn và đẹp hơn.

Hoa cúc vạn thọ như tên gọi của nó cũng chính là loại hoa mang lại vẻ đẹp và sức xuân trường cửu. Người Ai Cập cổ đại gọi nó là loại “Cỏ hồi xuân”. Nó có thể tham gia vào việc xúc tiến thay thế các tế bào chết, khiến cho da trắng hơn và làm co lại các lỗ chân lông một cách hiệu quả.

♦ Hoa anh đào cũng như hoa cúc vạn thọ có tác dụng “xuất thần” trong việc làm se lỗ chân lông. Mặt khác nó còn điều dưỡng độ cân bằng của dầu mỡ ở chân lông, khiến cho lỗ chân lông vừa thu nhỏ lại vừa có độ căng mịn màng.

♦ tudinhhuongTử đinh hương có chứa rất nhiều các thành phần hữu cơ, đặc biệt là dầu tử đinh hương được chiết xuất từ bộ phận nụ hoa. Công hiệu lớn nhất của tinh dầu hoa tử đinh hương đó là phòng ngừa oxy hóa da và giúp giữ ẩm cho da. Với tinh dầu chiết xuất từ hoa tử đinh hương, bạn sẽ có được những ngón tay thon thả, mềm mại và trắng đẹp.

♦ Hoa sen được dân gian xem là loại hoa lớn lên từ bùn nhưng không hề bị nhiễm tính bùn. Với vẻ đẹp, hương thơm và tính thanh khiết của nó, cũng có tác dụng trực tiếp đối với các lớp chất sừng của da nhưng thiên về việc loại bỏ các chất bẩn, các lớp da chết nhằm làm cho da sạch sẽ, giữ cho da không bị các tác nhân của môi trường ô nhiễm và các tia bức xạ xâm hại.

Golden Chain Flowers 2014 (1)♦ Hoa thược dược có công hiệu bảo vệ các lớp biểu bì mới tái sinh.

♦ Hoa kim tước: Tác dụng bảo vệ da lớn nhất của hoa kim tước đó là giảm thiểu sự tích trữ hàm lượng nước dưới da, giúp cho da săn chắc.

Jasminum – Cây hoa Nhài, hoa Lài

hoa Nhai

Y học

Hoa, lá và rễ – Flos, Folium et Radix Jasmini.
Lá thu hái quanh năm. Hoa thu hái vào hè thu, khi mới nở, dùng tươi hay phơi khô.
Hoa thường dùng để ướp trà hoặc để làm thơm thức ăn. Vào mùa thu đông, đào lấy rễ, rửa sạch, thái nhỏ, phơi hay sấy khô.
Hoa và lá nhài có vị cay và ngọt, tính mát; có tác dụng trấn thống, thanh nhiệt giải biểu, lợi thấp. Rễ có vị cay ngọt, tính mát, hơi có độc; có tác dụng trấn thống, gây tê, an thần.

Ngoài công dụng để ướp trà, trong y học cổ truyền, hoa nhài còn có tác dụng thanh nhiệt chữa ngoại cảm phát sốt, đau bụng, ỉa chảy. Hơn thế, dùng nước sắc từ hoa nhài có thể giúp chị em trị mụn, giúp da mặt sáng mịn.

Trị ỉa chảy: Hoa nhài 6g. Chè xanh 10g. Thảo quả 3g. Vỏ dộp ổi 3g.

Cách dùng: 4 thứ trên sắc chung trong ấm đất rồi uống ngày 3 lần. Uống liên tục trong 3 ngày.

Chữa mất ngủ: Hoa nhài 6g. Tâm sen 8g.

Hoa nhài và tâm sen hãm với nước sôi uống nhiều lần trong ngày. Uống liên tục từ 7-10 ngày sẽ thấy kết quả rõ rệt.

Chữa tăng huyết áp: Hoa nhài 10g, hoa hòe 10g, kim cúc 6g, hoa đại 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa rôm sảy: Lá nhài 50g, lá ngải cứu 30g, lá sài đất 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Uống liên tục 3-5 ngày.

Chữa mụn nhọt: Hoa nhài 10g, bồ công anh 20g, kim ngân hoa 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần.

Hoa hồng trắng (Hồng bạch)

Hoa Hong Trang 2-12. (2)

Lấy cánh của một bông hoa còn tươi, trộn với nửa thìa cà phê đường kính hoặc mật ong, cho vào một chén con sạch, đem hấp cơm. Khi cơm chín, lấy ra nghiền nát, gạn lấy nước cho trẻ uống làm nhiều lần trong ngày để chữa ho (có thể thêm quả quất chín).
Cánh hoa hồng trắng (20g – 30g) giã nhỏ hãm với 100ml nước sôi trong 15 – 20 phút, thêm 1 – 2 thìa cà phê đường, uống làm 2 – 3 lần trong ngày, có tác dụng nhuận tràng.

Hoa cúc: Có thể sử dụng với dạng nấu nước uống như nước giải khát hoặc sắc uống để chữa đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, đau mắt, cao huyết áp, sốt. Mỗi ngày có thể dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc, ngâm rượu uống, hoặc giã nát đắp mụn nhọt.

Hoa sứ: Có tác dụng hạ huyết áp, chữa ho, tiêu đờm, tiêu thũng, liều dùng 6-12g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc. Người ta còn dùng nước sắc hoa sứ chữa cảm sốt, kiết lị. Một số ghi nhận ở Lào cho thấy hoa sứ còn có tác dụng chữa viêm tắc động mạch, ở Campuchia chữa hắc lào.

Hoa cam: Dùng để pha chế thuốc theo đơn, hoa cam chứa nhiều tinh dầu, có tính kháng khuẩn nhưng kém hơn tinh dầu vỏ quả, có thể dùng nước hoa cam uống để làm êm dịu thần kinh.

Dahlia – Cây Thược Dược/
Hoa Thược Dược

Thược dược (danh pháp khoa học: Dahlia, đồng nghĩa: Georgina) là tên gọi của một chi cây lâu năm thân củ rậm rạp, nở hoa về mùa hè và mùa thu, có nguồn gốc ở Mexico và tại đây chúng là quốc hoa
Biểu tượng văn hóa: Hoa thược dược cũng là loài hoa chính thức của thành phố Seattle, bang Washington.

hoa-thuoc-duoc-2-1024x687

Hoa Thược dược

Nguồn gốc – Tên gọi

Năm 1872 một hộp cây thược dược non đã được gửi từ Mexico tới Hà Lan. Chỉ có một cây sống sót sau chuyến đi, nhưng nó đã tạo ra các bông hoa đỏ ngoạn mục với các cánh hoa nhọn. Các vườn ươm đã nhân giống loài cây này, khi đó được đặt tên khoa học là Dahlia juarezii với các loài thược dược được phát hiện sớm hơn và những giống này là tổ tiên của tất cả các loại thược dược lai ngày nay. Kể từ đó, các nhà nhân giống thực vật đã tích cực trong việc nhân giống thược dược để tạo ra hàng trăm giống mới, thông thường được chọn vì các bông hoa có màu sắc lộng lẫy của chúng. Tên gọi Dahlia được đặt theo tên của một nhà thực vật học người Thụy Điển thế kỷ 18 là Anders Dahl.

Hoa Thược Dược (9)

Trong các loài hoa, mẫu đơn đứng đầu, thược dược đứng thứ hai. Mẫu đơn được tôn xưng là “hoa vương”, thược dược được coi là “hoa tướng”. Danh y Lý Thời Trân của Trung Quốc cũng đánh giá như vậy khi nói về tác dụng chữa bệnh của hai loài hoa này.

Tuy chỉ là “hoa tướng” nhưng thược dược lại thành danh sớm hơn mẫu đơn. Tương truyền từ 3.000 năm trước, vào thời Tam Đại, thược dược đã được trồng để thưởng ngoạn ở rất nhiều nơi trong khi người ta còn chưa biết đến hoa mẫu đơn. Khi mới phát hiện ra mẫu đơn, người ta tưởng đó chỉ là một loài thược dược, nên đã gọi nó là “mộc thược dược”. Hai hoa này nhìn thoáng qua rất giống nhau nên người xưa thường gọi là hai chị em.

Hoa Thược Dược (10)

Về sau, người ta phát hiện mẫu đơn và thược dược tuy cùng họ nhưng là hai cây khác nhau. Thược dược là loài thân thảo, còn mẫu đơn là cây thân gỗ. Thược dược được xếp vào nhóm thuốc bổ huyết, sử dụng chủ yếu để bồi dưỡng cơ thể; còn mẫu đơn thuộc nhóm thanh nhiệt lương huyết, chủ yếu dùng khi cơ thể đã mắc bệnh.

hoa

Hoa Thược Dược (2)

Hoa mẫu đơn

hoa-Mau-don-1024x687

Hoa mẫu đơn có nguồn gốc từ Tây Tạng Trung Quốc đã có gần cách đây 4000 năm. Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh, Xa xưa loài hoa này chỉ thuộc sở hữu của giới quý tộc Trung Quốc. Ở Nhật Bản hoa mẫu đơn tượng chưng cho cuộc hôn nhân hạnh phúc với nhiều con cháu. Còn trong ngôn ngữ loài hoa phương Tây, nhờ những đặc tính y học tuyệt vời, Mẫu đơn còn được xem như một loại dược thảo chữa bệnh.

Hoa mẫu đơn không chỉ loài hoa đẹp mà những tính năng dược lý của hoa cũng được người ta lưu truyền trong nhân gian.

Đông y cho rằng hoa Mẫu đơn có tính bình, vị đắng, đi vào kinh là tâm, can và thận. Dược tính của Mẫu đơn chủ yếu ở vỏ rễ và hạt. Vỏ rễ có tính kháng sinh, giúp giảm đau, trị bỏng, làm giảm huyết áp, đêm sốt, chữa bệnh vàng da, dị ứng, nhọt độc sưng…Hoa có công dụng điều kinh hoạt huyết, khư ứ hành trệ, thường được dùng chữa cho phụ nữ, kể cả trường hợp bị trật tay chân, tổn thương, đau ở vùng lưng và eo. Vỏ rễ cây hoa mẫu đơn được dùng làm vị thuốc có tên gọi là đan bì hay mẫu đơn bì. Hạt hoa từng được xem như một loại gia vị thông dụng.

Mẫu đơn bì là vỏ rễ của cây hoa mẫu đơn (Paeonia suffruticosa Andr,) họ Hoàng liên (Ranunculaceae) phơi khô, vị hơi đắng và se. Mùi thơm đặc biệt. Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy rễ, loại bỏ rễ nhỏ và đất, bóc lấy vỏ rễ, rửa sạch nhanh, ủ mềm, thái đoạn, phơi khô. Bảo quản trong bao bì kín, để nơi khô, mát, tránh nóng để giữ hương vị.

Dưới đây là một số phương thuốc hữu hiệu đã được ứng dụng nhiều trong trị liệu:

– Chữa thống kinh ở nữ (đau bụng khi hành kinh), đau đầu, có thể dùng 10 g hoa mẫu đơn đem sắc lấy nước uống (có thể cho vào một ít đường cát trắng để dễ uống). Hay lấy 10 g hoa mẫu đơn, 10 g hoa bạch biển đậu đem sắc lấy nước uống thay cho nước trà trong ngày.

-Khi đến kỳ kinh mà không có kinh, tay chân lạnh, kèm đau vùng eo và bụng hoặc bị chứng xích bạch đới (khí hư ở phụ nữ), có thể dùng 10g hoa mẫu đơn, 10 g hoa quế đem nấu lấy nước uống thay cho trà để cải thiện bệnh. Có thể cho vào ít đường để dễ uống.

– Nếu Nam giới bị tình trạng hạ bộ nổi mụn nhọt, có thể dùng bột nghiền từ vỏ thân cây hoa mẫu đơn, một ngày dùng 3 lần, mỗi lần 4 g chiêu với nước sôi để nguội.

Khoảng năm 77 sau Công Nguyên, trong cuốn sách Pliny”s Natural History đã mô tả chi tiết về cây hoa và 20 bệnh chữa bằng những bộ phận của nó. Không lâu sau đó, Dioscoride cũng đã viết một luận án về những cây thảo dược, trong đó có Peony. Vì là một cây thuốc quan trọng, dược liệu Mẫu đơn được sản xuất với lượng lớn hằng năm nhằm đáp ứng nhu cầu ở Hồng Kông và thế giới.

Hoa Mẫu Ðơn 2013 (94)

Truyền thuyết về hoa mẫu đơn.

Đời Đường Cao Tông, say đắm Võ Hậu, lúc Vua băng hà con còn nhỏ, Võ Hậu chuyên quyền nhiếp chánh hãm hại công thần, tự xưng vương, đổi nhà Đường thành nhà Đại Châu, xưng hiệu Võ Tắc Thiên hoàng đế. Một hôm, Võ Tắc Thiên ngự du vườn thượng uyển nhìn cỏ cây xác xơ trơ trọi liễu đào ủ rũ điêu tàn, liền truyền lệnh bằng bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn:

“Lai triều du thượng uyển – Hỏa tốc báo xuân trị
Bách hoa liên dạ phát – Mạc đãi hiểu phong xuỵ ”
Dịch:
(Bãi triều du thượng uyển – Gấp gấp báo xuân haỵ
Hoa nở hết đêm nay – Đừng chờ muôn gió sớm).

Linh ứng thay! Trăm hoa phụng mệnh, chỉ trong một đêm bừng nở khắp vườn, mùi thơm sực nức nhân gian! Rạng sáng hôm sau, Võ Tắc Thiên dạo vườn trông muôn hồng ngàn tía ngoan ngoãn đua chen nở rộ, lấy làm tự mãn cho rằng quyền uy tột đỉnh. Bất giác, bà Chúa Võ Tắc Thiên nhìn đóa Mẫu Đơn bất tuân thượng mệnh, thân cây khẳng khiu cứng cỏi, không hoa lá. Giận thay cho loài hoa ngoan cố, Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam.

???????????????????????????????

Do đó, vùng Giang Bắc thiếu vắng loài hoa vương giả, biểu trưng cho quốc sắc thiên hương nhằm ám chỉ tuyệt sắc giai nhân. Người đương thời thấy vậy dệt bài Phú Ngọc Lâu Xuân Tứ nhằm thương hại và tán thán vẻ đẹp, sự khẳng khái của hoa Mẫu Đơn: “Thà chịu cảnh phong trần lưu lạc, tự giải phóng cuộc đời chớ không làm vương giả chốn kinh đô, chịu giam mình trong vườn hoa tù hãm của bạo chúa, đem sắc đẹp hương thơm ban rải cho mọi người để được dự phần thanh cao”.

[Sưu tầm trên mạng]

Hoa Sen

nn63

Được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là liên hoa, có vị ngọt, đắng, tính ấm, có tác dụng an thần, cầm máu, chống viêm, trừ thấp. Cánh hoa sen (loại mới nở càng tốt) phơi cho héo, 3g – 5g, thái nhỏ, hãm hoặc sắc uống chữa nôn ra máu. Dùng ngoài, cánh hoa sen giã nát, đắp chống phồng rộp, lở loét.
Y học hiện đại lại dùng cánh hoa sen pha chế dưới dạng sirô để làm thuốc gây ngủ.
Theo kinh nghiệm dân gian, cánh hoa sen (100g), rễ bạch chỉ (100g), thái nhỏ, phơi khô, trộn đều, quấn như điếu thuốc lá, rồi hút, hít và thở khói qua đường mũi để chữa viêm xoang, ngạt mũi.
Phụ nữ còn truyền cho nhau kinh nghiệm làm đẹp nhan sắc bằng cánh hoa sen, ngó sen và hạt sen (lượng mỗi thứ bằng nhau) phơi khô, tán nhỏ, uống mỗi lần 8g, ngày 2 – 3 lần.

Các bài thuốc với cây sen

 Sen no tren dat My

Cây sen.

Hạt sen có vị ngọt tính bình, bổ dưỡng an thần; tâm sen vị đắng tính hàn, trị sốt cao mê sảng, huyết áp cao; gương sen vị đắng sáp, tính ôn, dùng trị các chứng băng lậu ra máu… Trong thế giới thảo dược, ít có loài cây nào mà các bộ phận đều là những vị thuốc quý như cây sen.

Hạt sen – liên nhục, liên tử – là vị thuốc quý, có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, đặc biệt dùng để trị các chứng tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng. Một số bài thuốc với hạt sen là:

– Chữa di tinh, hoạt tinh, di niệu: bài Cố tinh hoàn, gồm liên nhục 2 kg, liên tu 1 kg, hoài sơn 2 kg, sừng nai 1 kg, khiếm thực 0,5 kg, kim anh 0,5 kg. Các vị tán thành bột, riêng kim anh nấu cao, làm thành viên hoàn, ngày uống 10-20 g.

– Chữa tiêu chảy mãn tính: gồm liên nhục 12 g, đảng sâm 12 g, hoàng liên 5 g. Các vị sắc uống hoặc tán bột uống mỗi ngày 10 g.

– Chữa mất ngủ do tâm hỏa vượng: bài Táo nhân thang, gồm táo nhân 10 g, viễn trí 10 g, liên tử 10 g, phục thần 10 g, phục linh 10 g, hoàng kỳ 10 g, đảng sâm 10 g, trần bì 5 g, cam thảo 4 g. Tất cả sắc uống ngày 1 thang.

Tâm sen – liên tử tâm: vị đắng tính hàn, có tác dụng thanh tâm trừ phiền, chỉ huyết sáp tinh, dùng để an thần, trị sốt cao mê sảng, hồi hộp tim đập nhanh, huyết áp cao. Tâm sen thường được phối hợp với cúc hoa, hoa hòe, hạt muồng… pha trà uống để dễ ngủ, hạ áp. Liều dùng 1,5-3 g.

Tua sen – liên tu: vị ngọt sáp, tính bình, tác dụng thanh tâm cố thận, sáp tinh chỉ huyết, dùng riêng hoặc phối hợp với hạt sen. Liều thường dùng 1,5-5 g.

Gương sen -liên phòng: vị đắng sáp, tính ôn, có tác dụng tiêu ứ chỉ huyết, dùng trị các chứng băng lậu ra máu, tiểu ra máu… Gương sen thường dùng để cầm máu bằng cách đốt thành than rồi phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng 5-10 g.

Lá sen – hà diệp, ngẫu diệp: vị đắng sáp, tính bình, tác dụng thanh thử, thăng dương, chỉ huyết, dùng để trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao và chứng cảm sốt mùa hè. Lá sen đã được ứng dụng nhiều năm chữa sốt xuất huyết thể nhẹ. Một số bài thuốc khác với lá sen:

– Chữa sốt cao nôn ra máu, chảy máu cam: bài Tứ sinh thang, gồm sinh địa tươi 24 g, trắc bá diệp tươi 12 g, lá sen tươi 12 g, ngải cứu tươi 8 g. Các vị nấu lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

– Trị béo phì, hạ cholesterol máu cao: đây là công dụng mới được phát hiện của lá sen. Trên thị trường hiện có bán nhiều loại trà giảm béo có lá sen, song có thể tự dùng bằng cách nấu lá sen tươi uống thay nước hàng ngày, mỗi ngày 1 lá.

Ngó sen – ngẫu tiết: là một món ăn ngon và dùng trị các chứng đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết kéo dài, khí hư bạch đới, tiêu chảy kéo dài. Liều dùng 6-12 g.

Bác sĩ Quan Thế Dân, Sức Khỏe & Đời Sống

CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH CỦA HOA NGÂU

Hoa ngâu

Hoa ngâu, hoa màu vàng, mọc thành chùm ở kẽ lá, rất thơm, ngoài công dụng ướp trà còn là một vị thuốc được Đông y sử dụng để trị bệnh. Mùa hoa ngâu nở rộ vào tháng 7, tháng 8. Có thể dùng hoa tươi hoặc phơi khô.

Theo Đông y hoa ngâu có vị ngọt hơi cay. Có tác dụng giải uất kết, giúp thư giãn, làm sạch phổi, tỉnh rượu, tỉnh táo đầu óc, sáng mắt, ngưng phiền khát. Thường dùng chữa các chứng ho hen, váng đầu, đầy trướng khó chịu ở ngực, trị nhọt độc…

Chữa chứng vấp ngã, bị đòn để lại thương tích:
lấy hoa ngâu, lá ngâu mỗi thứ 50g cho vào nồi nấu chín, chắt lấy nước, sau đó đổ nước vào nấu lại, nấu và chắt nước đủ 3 lần. Gộp chung 3 lần nước thuốc lại nấu bằng lửa to, sau đó hạ cho lửa nhỏ liu riu để được một dạng cao. Phết cao lên miếng lụa mỏng đắp vào vết thương. Ngày làm một lần sẽ cho kết quả tốt.

Chữa chứng say rượu:
lấy 10g hoa ngâu, 10g hoa sắn dây (cát hoa) cho chung vào cốc, đổ nước sôi già vào ngâm kỹ rồi uống.

Trị chứng cao huyết áp:
lấy 10g hoa ngâu, 30g hoa cúc, chia làm 3 phần đều nhau. Mỗi lần uống 1 phần với nước sôi già ngâm kỹ cho ngấm thuốc, để nguội rồi uống. Uống hết 3 phần thuốc trong ngày sẽ đỡ.

Trị chứng sốt, hen suyễn:
uống trà có ướp hoa ngâu hoặc hoa ngâu ngâm nước sôi già để nguội uống đều có kết quả tốt.

Chú ý, phụ nữ mang thai không được sử dụng đơn thuốc có hoa ngâu.

Theo : Suckhoe&doisong.

CÂY HOA HIÊN CHỮA BỆNH

Loại cây thảo sống lâu năm này còn có tên là hoàng hoa thái, kim châm thái, nghi nam hoa…. Dân gian hay dùng lá và hoa hiên nấu canh ăn, dùng lá, rễ và nụ làm thuốc. Hoa hiên vị ngọt, tính mát, giúp thanh nhiệt, tiêu đờm, cầm máu, thông sữa, an thai, lợi tiểu, sáng mắt.

Summer-2012_-21-1024x687

Một số bài thuốc Nam thường dùng :
Vàng da : Rễ củ hoa hiên 15 g giã nhỏ, vắt lấy nước cốt uống.
– Tắc tia sữa: Hoa hiên 12 g, bồ công anh 40 g. Sắc uống ngày một thang.
-Bốc hỏa ở phụ nữ mãn kinh: Hoa hiên 10 g, lá dâu 20 g. Nấu canh ăn hằng ngày.
– Mất ngủ : Hoa hiên 12 g, lá dâu tằm 20 g, lá vông nem 10 g. Nấu canh ăn hằng ngày. Hoặc: đem hoa hiên phơi khô trong râm, sao qua lửa, hằng ngày hãm uống thay chè.

– Chú ý: Không dùng hoa hiên để ăn sống vì sẽ bị ngộ độc
 
Source: Sức Khỏe & Đời Sống.

Thuốc từ Hoa Râm Bụt

Hoa Râm Bụt (18)

Các tỉnh miền Nam gọi là bông bụp, nói ở đây là bông bụp ta –

Một loại cây khiêm nhường thường chỉ được trồng làm hàng rào.

Tuy nhiên, hoa râm bụt khá đẹp nở rộ vào mùa hè và đầu mùa thu, hoa to xòe 5 cánh đỏ rực rỡ, trông na ná như cái dù, ở giữa vươn ra nhụy dài.

Những lợi ích sức khỏe ít ngờ tới của hoa dâm bụt

Trà dâm bụt đã được coi là 1 thức uống giải khát trong nhiều năm. Chúng cũng được coi là một phương thuốc thảo dược giúp hạ huyết áp, giảm cân, tăng cường hệ thống miễn dịch, ngừa nhiễm trùng bàng quang và táo bón.

Hạ huyết áp và kiểm soát cholesterol: Nghiên cứu cho thấy trà dâm bụt rất có lợi trong việc giảm huyết áp và có thể kiểm soát cholesterol trong máu.

Những nghiên cứu này đã được thực hiện ở những người lớn bị huyết áp cao hoặc tăng huyết áp nhẹ. Kết quả cho thấy những người uống 3 tách trà dâm bụt/ ngày đã có kết quả tốt hơn so với những người không uống loại trà này. Những người có huyết áp cao lúc bắt đầu nghiên cứu, sau khi uống trà đã giảm được huyết áp đáng kể.

Giảm cân: Trà dâm bụt có chứa chất ức chế enzyme giúp sản xuất amylase. Amylase là một enzyme giúp phân hủy tinh bột đường. Uống một tách trà dâm bụt sau bữa ăn sẽ làm giảm hấp thu carbohydrate trong chế độ ăn uống và sẽ giúp giảm cân.

Tăng cường hệ thống miễn dịch: Trà dâm bụt rất giàu vitamin C, là 1 phương thuốc thảo dược tuyệt vời để chống lại chứng cảm lạnh và nhiễm trùng bằng cách tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.

Ngoài ra, trà dâm bụt cũng giúp ngăn ngừa nhiễm trùng bàng quang và táo bón nếu bạn uống thường xuyên.

Uống trà dâm bụt như thế nào?
Trà dâm bụt có thể được làm bằng hoa dâm bụt tươi hoặc khô và có thể uống nóng hoặc lạnh.

Chuẩn bị làm trà dâm bụt:

– Đổ 1 chén nước sôi lên 2-4 muỗng cánh hoa dâm bụt khô
– Đậy nắp và ngâm trong 10-15 phút.
– Lọc lấy nước
– Thêm một chút mật ong, nước chanh, hoặc vỏ cam quýt để tăng thêm hương vị thơm ngon của trà dâm bụt

Một cách khác để chuẩn bị trà dâm bụt:

– Ngâm hoa dâm bụt khô trong nước trong 2 ngày (không yêu cầu đun sôi).
– Lọc lấy nước uống.

Hoa Râm Bụt (11)

Trẻ em thường lấy nhụy hoa râm bụt để ăn. Trong Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, và trong Lĩnh Nam bản thảo của Hải Thượng Lãn Ông có ghi:
“Râm bụt có vị ngọt, tính bình, không độc, tính thông hoạt, trị lở ngứa, sưng đau, bạch đới, mất ngủ, giải khát”. Hoa râm bụt thường được dùng làm thuốc chữa một số bệnh:

Trị mụn nhọt: Lấy hoa tươi và lá sạch, giã nát với một ít muối đắp lên những mụn nhọt đang mưng mủ (khô thuốc lại thay) cho đỡ đau nhức và chóng vỡ mủ.
Hoặc dùng hoa râm bụt phối hợp với lá trầu không, lá thồm lồm (3 thứ bằng nhau), đem giã nát, đắp lên mụn đang mưng mủ, cũng có công dụng tương tự.

CÔNG DỤNG

Chữa khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Dùng hoa râm bụt phơi khô, hãm uống như uống nước trà.
Chữa kiết lỵ: Bụng đau quặn, mót đại tiện nhiều lần, phân lầy nhầy như nước mũi, hoặc màu máu cá. Hái 10 hoa râm bụt bỏ cuống hoa, cho vào bát ăn cơm, thêm 1 thìa nhỏ (thìa cà phê) đường, đem hấp cơm.

Khi cơm chín lấy bát thuốc ra ăn. Bài thuốc này không độc, trẻ em rất thích ăn, áp dụng cho cả người lớn và trẻ em.

Chữa chứng nhức đầu chóng mặt ở phụ nữ: Lấy một nắm hoa râm bụt (khoảng 50g) và 40-50g gỗ vang, 3 lát gừng tươi, tất cả đem sắc uống (Nam dược thần hiệu).

Chữa di mộng tinh: Lấy hoa và lá râm bụt, lá bấn hoa trắng (còn gọi là bạch đồng nữ), thài lài tía, mã đề; mỗi thứ một nắm bằng nhau (chừng 50g) đem sắc uống. Với phụ nữ ra khí hư bạch đới như máu cá, hoặc đái buốt, đái rắt cũng dùng bài thuốc này để chữa trị.

Ngoài hoa, lá, thì vỏ và rễ của cây râm bụt cũng được dùng làm thuốc – rễ tiêu viêm tiết niệu, điều hòa kinh nguyệt…

Cũng nên biết thêm: Cần phân biệt râm bụt ta, với cây râm bụt Tây (có nguồn gốc từ Nam Mỹ) còn gọi râm bụt dấm, hoa có màu đỏ tía, cấu trúc hoa có khác khi nhìn gần.

Loại cây này mới được du nhập vào trồng ở nước ta, những năm gần đây, cũng có nhiều lợi ích tốt; nhưng không thuộc vào các trị liệu nói trên

Hoa Râm Bụt (2)

HOA RÂM BỤT

Sắc đỏ chẳng hương trầm
Ưa lòng bớt khổ câm
Xoa đầu ru dỗi lặng
Chớp mắt rửa đau thầm
Cánh nở rào bông đẹp
Cành vươn dậu bụp râm
Sương pha đài nhụy ửng
Tạo cảnh gợi xa xăm

Mytutru

Hoa Râm Bụt (11)

Hoa lớn nhưng ít có hương. Nhiều giống, thứ, lai được tạo ra, với màu hoa khác nhau từ trắng tới vàng và cam, hồng, đỏ tươi, với cánh đơn hay cánh đôi.

Trong các nghi lễ tôn giáo Hindu của người Ấn Độ, dâm bụt là một loại hoa bắt buộc phải có. Đối với người Trung Hoa, dâm bụt lại được sử dụng khá phổ biến như một loại thảo dược và công dụng chăm sóc da đầu, tóc là một trong những ưu điểm nổi bật của loại cây này.

Tại Việt Nam, ông bà ta xưa phát hiện dâm bụt chứa chất antoxyanozit, nên dùng lá và hoa tươi giã nhỏ với một ít muối đắp lên mụn nhọt đang mưng mủ, mụn nhọt sẽ đỡ nhức và nhanh vỡ mủ. Vỏ và rễ dâm bụt sắc với nước dùng uống chữa được xích và bạch lỵ, bạch đới, khí hư.

Hoa Cúc dại

Cúc dại là loài hoa nhỏ thường mọc hoang, có những cánh trắng ngần, từ giữa tỏa ra như hình nan hoa quanh một nhụy vàng tươi. Trẻ em thường thích hái hoa cúc dại để kết thành bó hay xâu thành chuỗi. Ở Anh, Cúc dại còn được gọi là Baby’s pet hay Bairnwort, có nghĩa là hoa của trẻ em.

Cuc trang 2013Cúc dại có nhụy vàng ở giữa, xung quanh là những cánh trắng muốt, mềm mại, mỏng manh.

Cúc dại không có hương thơm nhưng lại nở hoa đẹp đến nao lòng trên những dải đất cằn có lẫn đá và cát. Vì thế, khi nhìn những bông cúc dại vươn mình trong nắng gió, người ta có thể cảm nhận được điều gì đó thật mộc mạc nhưng cũng lại thật mãnh liệt của niềm khao khát được sống.

Theo Danh mục các cây thuốc Việt Nam, Cúc dại chứa nhiều nhóm chất hoá học có tác dụng đặc biệt trên hệ miễn dịch, giúp cơ thể phòng vệ hoặc tấn công các tác nhân gây nhiễm trùng. Do vậy, dân gian dùng rễ cây sắc uống hoặc tán bột uống trị sốt, ho, kinh nguyệt nhiều.

Hoa Bồ công anh

Không màu sắc sặc sỡ, không hương thơm quyến rũ..,. Bồ công anh thường mọc dại ở các vườn, đất hoang và sinh trưởng mãnh liệt vào mùa xuân. Hoa có màu vàng, đôi khi màu tím; cụm hoa hình đầu, hạt màu đen có cán mang lông vũ. Sau khi hé nở một thời gian, thì từng cánh hoa sẽ chấp bay theo gió, hoa bay đi thật xa để tiếp tục gieo rắc sinh sôi nẩy nở.

hoa bồ công anhHoa Bồ công anh thường mọc dại ở các vườn.

Trong số các loài hoa dại, Bồ công anh được giới trẻ “bồ kết” chọn trong trò chơi những cánh hoa tiên đoán tình yêu. Ngoài ra, vì hoa nở và tàn vào những giờ giấc nhất định nên từ xưa, nó đã được những người chăn cừu cô đơn xem như một cái đồng hồ.

Loài hoa dại bé nhỏ này không chỉ làm những món rau trộn salad rất ngon (ở phương Tây người ta hay ăn), mà còn là vị thuốc quý trong y học phương Đông. Bồ công anh có công dụng giải nhiệt độc, chữa mụn nhọt, ngộ độc, thanh huyết, bổ dạ dày…

Hoa ngũ sắc

Hoa ngũ sắc

Theo kinh nghiệm dân gian, hoa ngũ sắc có những công dụng sau:
Chữa viêm da, mẩn ngứa, chàm: dùng cành, lá tươi hoa ngũ sắc nấu lấy nước đặc, ngâm rửa hằng ngày.
Thuốc cầm máu, sát khuẩn, hàn vết thương: lá tươi rửa sạch, giã đắp. Hoặc lá và hoa ngũ sắc (03 g) phối hợp với gừng tươi (10 g), phơi hoặc sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn, rắc. Nếu vết thương rộng thì băng lại, ngày đắp 1 lần.
Chữa ho ra máu: hoa ngũ sắc (15-20 g) để tươi hoặc 6-10g phơi khô sắc với 200 ml nước đến khi còn 50 ml, uống một lần trong ngày. Có thể thêm đường cho dễ uống. Nước sắc này còn chữa cảm sốt, bệnh ôn nhiệt vào mùa hè, thu.
Chữa rắn cắn: rễ hoa ngũ sắc (20 g), dây tơ hồng (20 g), rễ bạch hoa xả (20 g), dây thần thỏng (10 g) tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống 3 lần một ngày, cách nhau chừng 20 phút.
Theo một số tài liệu, ở nam Trung Quốc, nước hoa ngũ sắc được dùng để tắm chữa ghẻ. Ở Indonesia, Philippines lá hoa ngũ sắc giã đắp các vết đứt, lở loét, sưng tấy.

Dược sĩ Đỗ Huy BíchKhoa Học và Đời Sống

Chuyển đến trang:  1   2  3  4  5  6  7  8  9 10 11

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s